Thứ Hai, 19 tháng 10, 2009

The Last Song Phan 4

Unbelievable, hôm nay tớ đã dịch xong 2 chương nè. Các bạn tha hồ đọc nha.

Chương 5 tới, sẽ thú vị hơn đấy. Các bạn sẽ cười toe toét vì đó là chương về Wonnie. Nhưng sẽ lâu mới dịch xong đấy. Chương 5 này dài không kém gì chương 3 đâu

4. Marcus

Anh ta biết nó đi theo họ. Họ luôn thế. Đặc biệt là các cô gái mới lớn. Phải có vấn đề gì với các cô gái ấy: Anh càng đối xử tệ với họ bao nhiêu, họ càng muốn anh ta bấy nhiêu. Họ ngu ngốc thế đấy.

Biết mà vẫn ngốc.

Anh cúi chỗ chậu hoa trước khách san, Blaze ôm lấy anh ta. Ronnie ngồi trên một chiếc ghế xung quang đó Teddy và Lance đang nói xấu nhau khi họ cố gây sự chú ý của các cô gái quanh đây. Họ như bị say rượu—Họ hơi say kể cả trước buổi diễn—và như thường lệ, tất cả trừ cô gái xấu nhất đều từ chối họ.

Blaze, trong khi đó cắn vào cổ Marcus, nhưng hắn ta kệ. Hắn chán cái cách mà cô ta cứ bám riết anh khi họ ra ngoài. Nói chung là chán cô ta. Nếu mà cô ta lên giường không giỏi, nếu cô ta không biết cái gì thực sự khiến hắn ta kích động, hắn đã bỏ từ tháng trước để theo đuổi 1 trong 3, 4, 5 cô gái mà hắn muốn lên giường cùng. Nhưng bây giờ hắn cũng chẳng thích họ nữa. Thay vào, hắn thấy Ronnie, thích cái lọn tóc tím và cơ thể của nó, ánh mắt của nó, phong cách ăn cao cấp, chỉ trừ cái áo ngu ngốc kia. Hắn thích, cực thích là đằn khác.

Hắn đẩy Blaze ra, ước cô ta không ở đây. “Mua cho anh ít đồ rán,” hắn nói. “Anh đói quá rồi.”

Blaze giật lại. “Em có 2 đôla thôi.”

Nghe thấy tiếng than vãn, hắn nói. “Thì sao? Vẫn được. Chỉ cần em đừng ăn là được rồi”

Hắn cố ý thế. Blaze hơi bực mình, mặt xị lên. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi cô ta đã uống nhiều như Teddy và Lance. Blaze thể hiện sự bực mình, nhưng Marcus đã đẩy cô ra chỗ cửa hàng bán đồ ăn. Hàng ó ít nhất 6, 7 người mua, và cô ta đứng ở hàng cuối, Marcus đi đến chỗ Ronnie và ngồi gần nó. Gần, nhưng không gần quá. Blaze thuộc dạng người hay ghen tuông, và hắn không muốn cô ta chạy đến chỗ Ronnie trước khi hắn làm quen nó.

“Em nghĩ sao?” hắn hỏi
“Nghĩ gì?”

“Buổi biểu diễn. Em đã xem thứ gì như thế ở New York chưa?”

“Chưa,” nó thừa nhận, “Em chưa xem.”

“Em ở đâu thế?”

Một đoạn dưới bãi biển.” Hắn có thể nói để nó cảm thấy dễ chịu, có lẽ Blaze không ở đây.

“Blaze nói em bỏ bố mình.”

Đáp lại, nó chỉ nhún vai.
“Sao thế? Em không muốn nói về điều đó à?”

“Chẳng có gì để nói cả.”

Hắn nghiêng người. “Có lẽ em không tin anh.”

“Anh nói gì vậy?”

“Em chỉ nói với Blaze, không nói với anh.”

“Em còn chẳng biết anh.”

“Em cũng chẳng biết Blaze. Em mới gặp nó thôi.”

Ronnie không quan tâm tới lời nói của hắn. “Em không muốn nói về ông ta. Và em chẳng muốn ở đây đến hết hè.”

Hắn đẩy tóc ra. “Em sẽ rời đây.”

“Phải. Em còn biết đi đâu chứ?”

“Hãy đến Florida.”

Nó nháy mắt. “Cái gì?”

“Anh biết có người có nhà bên ngoài. Nếu em muốn, anh sẽ đưa em đi. Chúng ta có thể ở đấy bao lâu cũng được. Ô tô của anh ngoài kia.”

Nó nhìn chằm vào hắn như bị shock. “Em không thể đến Florida với anh. Em… Em mới biết anh thôi. Còn Blaze thì sao?”

“Cô ta thì sao?”

“Anh yêu cô ta mà.”

“Thì sao?” Hắn làm ra vẻ tự nhiên

“Thật kỳ cục.” Nó lắc đầu và đứng lên. “I think I’ll go see how Blaze is doing.”

Marcus móc qủa cầu lửa trong túi ra. “Em nghĩ anh đùa hả?”

Thực ra, hắn chẳng đùa đâu. Hắn nói cùng một lý do, hắn sẽ ném quả cầu vào Ronnie sẽ xem nó chạy đi đâu được.

“Được rồi.Em vẫn sẽ ra kia nói chuyện với cô ấy.”

Marcus nhìn nó đi. Hắn càng ưa thân hình nó bao nhiêu, hắn càng muốn theo đuôi nó bấy nhiêu. Nó mặc đẹp, nhưng không như Blaze, nó không hút thuốc lá hay tiệc tùng như Blaze. Hắn tự hỏi liệu nó có nhiều tiền không nhỉ. Có căn hộ ở New York, nhà ở bãi biển? Gia đình phải giàu mới đủ tiền để có những thứ như thế. Nhưng… rồi, nó không có cơ hội với những người có tiền quanh đây, ít nhất là những người hắn quen biết. Vậy điều đó là gì? Sao nó lại xảy ra? Vì hắn không thích những người giàu, không thích cái cách họ khoe khoang, và không thích cái kiểu họ cho mình hơn tất cả mọi người vì thế. Một lần, trước khi bỏ học, hắn có nghe một đứa con nhà giàu nói về con tàu mới nó được tặng trong ngày sinh nhật. Nó chẳng phải là một con tàu bé tí; đó là con tàu Boston Whaler với định vị GPS và thiết bị siêu âm, và đứa trẻ giữ việc nó sử dụng tàu suốt hè. 3 ngày sau, Marcus đặt nó vào đống lửa và xem đó bị đốt sau cây mộc lan trên thảm cỏ thứ mười sáu.

Tất nhiên hắn chẳng nói với ai hắn đã làm gì. Nói với một người, và tất nhiên hắn sẽ phải khai hết trong sở cảnh sát. Teddy và Lance cũng giống hắn: Đặt chúng trong phòng và chúng sẽ sớm chết khi cánh cửa đóng sập lại. Đó là lý do hắn bắt chúng làm tất cả những công việc bẩn thỉu. Cách tốt nhất là bắt chúng phạm tội hơn hắn ngày trước. Bây giờ, chúng đã trộm rượu, đã đánh người bất tỉnh trước khi cướp ví, đã sơn chữ thập lên giáo đường. Hắn không nhất thiết phải tin tường, thậm chí chẳng giống như, nhưng luôn nằm trong kế hoạch của chúng. Đằng sau hắn, Teddy và Lance tiếp tục hành động như lũ ngốc, và khi Ronnie đi rồi, Marcus phát điên lên. Hắn không có ý định ngồi đây cả đêm mà chẳng làm gì. Sau Blaze trở lại, sau khi ăn xong, hắn đoán họ sẽ đi lang thang. Xem chuyện gì sẽ xảy ta. Không bao giờ biết chuyện gì sẽ xảy ra ở đây như vậy, trong đám đông như vậy. Một điều chắc chắn: Sau buổi diễn, hắn luôn muốn có gì đó… nhiều hơn thế. Dù là gì đi chăng nữa.

Liếc qua cửa hàng, hắn thấy Blaze đang trả tiền, Ronnie ngay đằng sau. Hắn nhìn chằm chằm vào Ronnie, sẵn sàng bắt nó phải đi theo mình, và cuối cùng, nó đã làm. Không nhiều, rất nhanh cóng, nhưng cũng đủ để khiến hắn tự hỏi liệu nó có muốn lên giường với mình không. Có lẽ có đấy, hắn nghĩ thế. Hầu hết những người kia, đều thuộc loại “ngon” đấy.

The Last Song Phan 3

Xin lỗi khi để mọi ng` chờ quá lâu thế này. Thú thật, chương này quá dài mà laptop mình bị hỏng, bây giờ mới chữa xong thành thử ra bây giờ mới có. Nhưng các bạn yên tâm ha, chương 4 sau chỉ dài 1 trang thôi nên sẽ post nhanh chóng, I promise.


Chương 3 này Ronnie đã gặp Will rồi nè. Có xh 2 nv mới là Blaze và Marcus.

Chương 3: Ronnie

Hội chợ thật đông đúc, nhất là lễ hội hải sản ở Wrightsville. Khi Ronnie vừa lấy một lon nước ngọt ở máy bán hàng tự động, nó nhìn thấy những chiếc ô tô nối tiếp nhau ở hai bên đường dẫn đến bến phà và nó còn thấy một vài thanh thiếu niên mạnh dạn cho xe vào gần đó..

Đến nay, dù hoạt động đó rất nhàm chán. Nó hy vọng rằng bánh xe Ferris sẽ được lắp thường trực và các bến tàu có các cửa hàng như ở Atlantic. Ngoài ra, nó hy vọng sẽ có một kiểu cửa hàng mà nó có thể tới thường xuyên ở đấy. Không may mắn như thế. Lễ hội phải tạm thời tổ chức gần bãi xe các bến tàu. Những chiếc xe ọp ẹp này luôn có mặt trong lễ hội, bãi đỗ xe bị ngăn cách với những cửa hang điện tử đắt đỏ và cửa hàng đồ béo. Nơi đây giống như là… thứ tạp phô ý.

Không ai có thể chia sẻ với Ronnie cả. Nơi này chật ních cả rồi. Già trẻ, gia đình, nhóm học sinh trung học liếc mắt nhìn nhau. Chẳng có vấn đề gì cả, trong người nó như có lửa đốt ý. Người nó lấm đầy mồ hôi. 2 trong số đám người kia chen qua nó vì quá đông người. Họ đều có xúc xích nướng và thanh kẹo Snickers mà nó nhìn thấy ở cửa hàng giảm giá. Nó nhăn mũi.

Thấy có lỗ hổng, nó ra khỏi trò chơi lễ hội và hướng về phía bến tàu. May mắn thay, đám đông thưa dần khi nó xuống bến tàu, trước đây có nhiều gian hàng thường bán đồ thủ công. Nó chẳng nghĩ mình sẽ mua gì. Nhưng rõ ràng có ai đó đã mua những thứ hoặc gian hàng không tồn tại.

Phân tâm, nó va phải một cái bàn của một bà lão ngồi trên ghế gấp. Bà mặc chiếc áo sơ mi đính logo SPCA, có mái tóc trắng và trông bà rất phấn khởi—sao giống như bà nó thế, bà nó dành gần như cả ngày để làm bánh quy trước Năm Mới, Ronnie đoán vậy. Cái bàn đằng trước nó có những cuốn sách nhỏ và thùng ủng hộ, cùng với hộp cùng với hộp các-tông lớn. Trong cái hộp có 4 con chó xám, một trong số chúng nhảy lên chân mình và nhìn chằm vào Ronnie.

“Chào anh bạn nhỏ,” nó nói

Bà lão cười. “Cháu muốn ôm nó không? Nó rất vui nhộn. Tên nó Seinfeld.”
Con chó con làm bộ mặt nũng nịu.

“Không cần đâu ạ.” Dù con chó thực sự rất dễ thương đến nỗi Ronnie còn chẳng biết tên nào phù hợp với nó

Nó cũng muốn ôm con chó, nhưng nó biết khi ôm mình sẽ chẳng muốn thả con chó ra. Nó rất yêu động vật, đặc biệt là động vật hoang. Giống như những con chó nhỏ này. “Chúng mày sẽ ổn thôi phải không? Mày sẽ không phải chui vào đây ngủ nữa đâu?”
“Chúng sẽ ổn thôi,” bà lão trả lời. “Đó là lý do chúng ta kê lại cái bàn này. Để mọi người có thể nhận chúng về nuôi. Năm ngoái, chúng ta đã tìm nhà cho hơn 30 con vật, và bốn con chó này đã, đang và sẽ được tìm chủ nuôi. Bà đang chờ một người để đón chúng về. Nhưng cháu cũng có thể nếu cháu thích.”

“Cháu chỉ thăm thôi,” Ronnie trả lời, giống như có tiếng nổ ở bãi biển. Nó vươn cổ ra, cố xem. “Chuyện gì thế ạ? Có một buổi hòa nhạc?”

Bà lão lắc đầu. “Bóng chuyền bãi biển. Họ đã chơi hàng giờ rồi—một hình thức giải đấu. Cháu nên đi xem đi. Bà nghe tiếng cổ vũ cả ngày, chắc trò chơi phải hay lắm đó.”
Ronnie nghĩ về điều đó, Sao không nhỉ? Chắc chắn sẽ tốt hơn những chuyện khác đã diễn ra. Nó thả 2 đôla vào thùng trước khi đi tiếp.

Mặt trời lặn dần, khiến biển thêm rực rỡ. Trên bãi biển, một vài gia đình họp gần những lâu đài cát bị thủy triều dập mất. Nhạn biển bay ra bay vào, tìm những con cua.
Chẳng cần mất nhiều thời gian để nó tìm ra trận bóng chuyền ở đâu. Nó đi từng bước đến mép biển chỗ trận bóng, nó nhìn thấy 2 cô gái khác ở phía khán giả có vẻ lưu luyến hai cầu thủ ở bên phải. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả. Hai anh chàng đấy không biết bằng tuổi hay lớn hơn nó nhỉ?—giống như những người mà Kayla bạn nó miêu tả có “đôi mắt quyến rũ.” Dù không ai trong số họ là mẫu người của Ronnie cả, nhưng không thể không thán phục cơ bắp cuồn cuộn và dáng người của họ khi họ đi trên cát.
Đặc biệt là cái anh chàng cao cao kia, với mái tóc nâu và cái vòng cổ tay. Kayla chắc chắn sẽ nhắm khi biết anh ta—cô ấy luôn thích những người cao to. Ronnie biết những cô gái tóc vàng hoe đều như thế cả. Họ đều gầy và dễ thương , với hàm răng trắng bóng, và luôn muốn mình là trung tâm của sự chú ý và muốn những anh chàng phải thèm rõ dãi. Họ luôn muốn được mọi nguời tung hô, có lẽ họ cũng không muốn mái tóc mình bị rối lên. Họ có thể được ngưỡng mộ từ xa. Ronnie không biết họ, nhưng nó không hề ưa gì những người như thế..

Nó quay lưng về phía đám đông khi anh chàng đẹp trai đó ghi thêm 1 điểm. Và 1 điểm nữa. Lại ghi thêm 1 điểm nữa. Nó không biết điểm đó là gì, nhưng chắc chắn đội đó chơi giỏi hơn. Chưa hết, khi xem, nó lặng lẽ nhìn những anh chàng khác. Nó nhìn nhiều hơn vào người bị thua và nhiều hơn việc đội thắng cuộc để ý đến nó, những anh chàng phía Đông từ Dalton và Buckley nghĩ họ tốt hơn tất cả mọi người đơn giản là vì bố họ là giám đốc ngân hàng đầu tư. Nó đủ biết những gì gọi là đặc quyền đặc lợi khi thấy họ, và nó tin rằng 2 người kia chắc chắn rất nổi tiếng ở đây. . Sự nghi ngờ của nó được khẳng định sau khi anh chàng tóc nâu nháy mắt vào cô gái tóc vàng giống như búp bê Barbie và anh ta sẵn sàng tiếp cận rồi. Trong thị trấn này, tất cả mọi người đều biết nhau.

Sao nó lại ngạc nhiên như vậy nhỉ?

Trận đấu bỗng nhiên kém hào hứng hơn và nó quay lưng lại rồi rời đi. Nó ngờ ngợ, nghe ai đó hét lên khi đội kia tấn công tiếp, nhưng trước khi đi hai bước, nó cảm thấy khán giả xung quanh xô đẩy nhau, một người va phải nó trong chốc lát.

Cái chốc lát ấy sao dài quá.

Ronnie quay lại và thấy 1 cầu thủ bóng chuyền xô vào nó, đầu cậu vươn ra để đỡ quả bóng ương ngạnh. Nó không kịp phản ứng khi cậu ấy ngã phải. Anh chàng ấy đỡ vai nó. Nó cảm thấy cánh tay nó giật giật giống như nắp bắn ra khỏi ly Styrofoam, trước khi nước soda bắn vào mặt và áo nó.

Sau đó, mọi chuyện đã qua. Lại gần, anh chàng tóc nâu mà nó vừa để ý lại gần nó, đôi mắt cậu thật quyến rũ. “Cậu có sao không?” cậu ta hỏi

Nó có thể thây soda bắn vào mặt rồi chảy vào áo nó. Nó nghe thoáng có người trong đám đông cười. Sao lại không cười nhỉ? Đây là một ngày tuyệt vời mà

“Tớ không sao,” nó lắp bắp.

“Chắc chứ?” cậu thở hổn hển. Để chắc ăn, cậu tỏ vẻ ăn năn. “Tớ đã ngã vào cậu rất mạnh mà.”

“Cứ… để tớ đi là được rồi,” nó nghiến răng.

Cậu ấy có vẻ không nhận ra mình đang nắm lấy vai Ronnie, và bàn tay cậu giống như bị áp lực vậy. Cậu nhanh chóng bước về và lập tức đeo vòng vào. Cậu quay lại. “Tớ rất xin lỗi. Tớ chỉ định lấy bóng và…”

“Tớ biết mà,” nó nói. “Tớ rất ổn, được chưa?”

Nói rồi, nó quay đi, chẳng muốn gì hơn là ra khỏi đây càng xa càng tốt. Đằng sau, nó nghe ai gọi, “Will! Quay lại trận đấu đi!” Nhưng khi nó ra khỏi đám đông, nó vẫn tiếp tục ngắm nhìn cậu ấy đến khi tầm nhìn biến mất.

Áo của nó không bị sao, nhưng điều đó chẳng khiến nó đỡ hơn là mấy. Nó thích chiếc áo này, đó là kỷ vật của buổi hòa nhạc của ban nhạc Fall Out Boy mà nó lẻn đi với Rick năm ngoái. Mẹ nó gần như nổi điên lên vì chuyện đấy, không chỉ vì Rick có hình xăm mạng nhên ở cổ và đeo khuyên tai nhiều hơn Kayla; mà còn vì nó nói dối mẹ nó đi đâu, và nó không về nhà đến tận chiều, kể từ khi chúng chia tay Philadelphia, nơi anh trai Rick sống ở đó. Mẹ nó không muốn Ronnie gặp hay thậm chí nói chuyện với Rick một lần nữa, và Ronnie đã phá lệ ngày hôm sau.

Không phải nó yêu Rick; nó còn chẳng thích Rick. Nhưng nó giận mẹ, và điều đó lúc bấy giờ là đúng. Nhưng khi nó đến nơi ở của Rick, cậu ta lại say, cũng giống như lúc ở buổi hòa nhạc, và nó nhận ra nếu muốn tiếp tục gặp hắn, hắn muốn tiếp tục áp lực nó thử những thứ hắn nói đến, giống như hắn làm đêm qua. Nó chỉ ở đó vài phút trước khi đến Union Square cuối chiều, và biết chuyện giữa nó và hắn.
Nó thừa biết về ma túy. Một số bạn của nó hít rất nhiều, một ít thì hít cocain hay uống thuốc lắc, thậm chí chúng nó còn coi đó là thói quen. Mọi người trừ nó đều uống thuốc lắc vào cuối tuần. Mỗi club hay có tiệc nó đều đến để cung cấp thuốc cho mọi người. Vẫn như vậy, dường như mọi lúc bạn nó hít hay uống thuốc chúng đều dành buổi tối còn lại để chửi thề hay ói mửa hoặc thậm chí còn làm những việc rất ngu ngốc.Có điều gì cứ quanh đi quẩn lại về anh chàng đó nhỉ.

Ronnie không muốn đến đó. Không phải sau chuyện xảy ra vời Kayla mùa đông năm ngoái. Có ai - người mà Kayla không biết - đã cho ít GHB vào đồ uống của Kayla, và dù cô ấy chỉ có nhớ những gì rất mơ hồ, cô ấy vẫn chắc rằng mình nhớ ở trong phòng với 3 tên con trai mình gặp lần đầu. Khi cô tỉnh dậy sáng hôm sau, quần áo của cô ấy bị trải xung quanh phòng

Kayla không bao giờ nói chuyện này nữa – cô ấy hay giả vờ như chuyện này chưa xảy ra và hối hận vì kể cho Ronnie quá nhiều – nhưng không khó để liên tưởng lại.
Khi đến bến tàu, Ronnie đặt cái cốc vơi một nửa của mình xuống rồi chấm nhẹ lên áo và khăn. Có vẻ hiệu quả đấy, nhưng chiếc khăn đã bị phân hủy thành những mảnh nhỏ trắng giống như gàu vậy
Tuyệt.

Nó ước anh chàng đã đâm vào người khác, chứ không phải nó. Nó chỉ ở đó khoảng, 10 phút ư? Việc nó chạy đi đúng lúc bóng bay có nghĩa gì? Và nó bị soda hắt lên người giữa đám đông ở trận bóng chuyền nó không muốn xem, ở nơi nó không muốn đến có ý nghĩa gì? Trong một triệu năm nữa, việc này có lẽ sẽ không bao ra xảy ra. Với những sự việc như vậy, nó nên mua sổ xố thì tốt hơn.Và rồi có anh chàng đã làm thế. Anh chàng đẹp trai có mái tóc và đôi mắt màu nâu. Lại gần, nó thấy cậu còn hơn cả đẹp trai, đăc biệt khi cậu thể hiện sự… quan tâm. Cậu ấy phải rất nổi tiếng, nhưng trong đôi mắt cậu, nó có cảm giác kỳ lạ nhất như mình đã quen rồi.

Ronnie lắc đầu để bỏ ngoài những ý nghĩ điên rồ. Rõ rang ánh nắng đã khiến đầu óc nó có vấn đề. Nó muốn làm một cách tốt nhất có thể với chiếc khăn, nó nhặt chiếc cốc soda lên. Nó định vứt chỗ còn lại đi, nhưng khi nhìn lại, nó cảm thấy cái cốc có vai trò gì giữa nó và cậu ấy. Lúc ấy, không có gì xảy ra; soda đã phủ ướt trên áo.

Nó ớn lại, nhìn chằm xuống cái áo trong sự hoài nghi. Chắc nó giỡn đấy.

Đứng trước nó là một cô gái trạc tuổi tay cầm Slurpee, trông có vẻ rất bất ngờ. Cô gái mặc đồ đen, mái tóc xõa ôm lấy mặt. Giống Kayla, cô có ít nhất 6 khuyên ở mỗi tai, nổi bật là khuyên tai hình đầu lâu, và đôi mắt đen với cái đường kẻ mắt khiến trông thật hoang dã. Rồi nó nhìn vào cốc Slurpee hướng về vết soda trên áo Ronnie.

“Đồ ngốc,” cô gái ấy nói.

“Cậu nghĩ thế à?”

“Ít nhất là bây giờ.”

“Tớ hiểu rồi. Cậu đang cố trở thành người vui tích.”

“‘Dí dỏm’ thì đúng hơn đấy.”

“Thế thì cậu phải nói ‘Cậu nên cặp bồ với cái cốc này đi thì hơn.’”

Cô gái ấy cười, trông thật đáng ngạc nhiên. “Trông cậu không phải người ở đây?”

“Không. Tớ từ New York. Tớ đến thăm bố.”

“Vào cuối tuần này?”

“Không. Cả hè.”

“Thế thì đúng là ngốc thật.”

Lần này thì Ronnie cười. “Tớ là Ronnie. Tên tắt của Veronica.”

“Gọi tớ là Blaze.”

“Blaze?”

“Tên thật của tớ là Galadriel. Tên đấy lấy từ “Chúa tể của những chiếc nhẫn”. Mẹ tớ kỳ cục như thế đấy.”

“Ít ra mẹ cậu không đặt tên là Gollum.”

“Hoặc Ronnie.” Nghiêng đầu, cô ta tựa vai. “Nếu cậu muốn cái gì khô, có mấy chiếc áo Nemo trong gian hàng ở đó kìa.”

“Nemo?”

“Phải, Nemo. Trong phim hoạt hình ý? Con cá trắng và cam ý? Bị kẹt trong bể cá và bố nó phải đi tìm ý?”

“Tớ không muốn có chiếc áo Nemo được chưa?”

“Nemo tuyệt vời mà.”

“Có lẽ cậu 6 tuổi,” Ronnie vặn lại

“Hợp với cậu đấy.”

Trước khi Ronnie đáp, nó nhìn thấy 3 anh chàng cách đó không xa. Họ nổi bật giữa đám đông với quần jeans rách, hình xăm trên ngực. Một anh có dôi lông mày rậm, người kia có cánh tay được tẩy trắng và đầy xăm trên cánh tay. Người kia, giống Blake,có mái tóc đen dài phủ trên khuôn mặt trắng. Ronnie ra hiệu cho Blaze bảo đi. Jonah đứng ở đấy liền chạy đến hỏi.

“Chị đổ cái gì lên áo thế?” nó hỏi. “Trông chị ướt nhẹp và dơ nữa”
Ronnie tìm Blaze, tự hỏi cô ấy đâu và tại sao cô ấy lại đi mất. “Em cứ đi đi, được chưa?”

“Em không thể. Bố đang tìm chị kìa. Chắc bố muốn chị về nhà đấy.”

“Bố đâu?”

“Bố đi vệ sinh rồi, nhưng bố sẽ đến đây vài phút nữa.”

“Nói với bố là em không thấy chị.”

Jonah nghĩ và nói. “5 đôla.”
“Cái gì?”

“Đưa em 5 đôla và em sẽ quên là chị ở đây.”

“Em nghiêm túc đấy chứ?”

“Chị không có thời gian đâu,” nó nói. “Giờ là 10 đôla rồi.”

Qua ý nghĩ của Jonah, Ronnie biết bố đang tìm nó quanh đây. Với bản năng của mình, nó biết mình không thể trốn bố được. Nó nhìn chừng chừng em nó, kẻ tống tiền, người mó luôn nhìn rõ được bản chất. Em nó rất đáng yêu và Ronnie cũng yêu Jonah lắm và nó phục cái khả năng “tống tiền”, nhưng dù sao nó vẫn chỉ là, một đứa trẻ. Ở một thế giới hoàn hảo, em nó sẽ về phe nó. Nhưng lúc này, tất nhiên là không rồi.

“Em biết chị ghét em mà,” nó nói.

“Phải, em cũng thế. Nhưng chị vẫn phải trả em 10 đôla.”

“5 thôi”

“Chị mất cơ hội rồi. Nhưng em sẽ giữ bí mật của chị nếu chị đưa em 10 đôla.”

Bố chúng vẫn chưa thấy, nhưng đi đến gần hơn rồi.

“Thôi được,” nó hít một hơi, lục ví. Nó vò tờ tiền lại và Jonah cất ngay vào túi.

Thoáng qua vai Jonah, nó đấy bố đang đến, đầu ông quay đi quay lại nhìn tìm, và nó né quanh gian hàng. Bất ngờ, Blaze nghiêng ra phía bên kia cửa hàng, hút một điếu.
Cô ta cười. “Cậu có vấn đề với bố à?”

“Tớ thoát ra kiểu gì đây?”

“Đó là việc của cậu.” Blaze nhún vai. “Nhưng ông ấy biết cậu mặc áo gì đấy.”

1 giờ sau, Ronnie ngồi cạnh Blaze trên băng ghế cuối tàu, vẫn chán, nhưng đỡ hơn ban đầu. Blaze quay ra đế nghe cho rõ, với năng khiếu hài hước—điều tuyệt vời nhất, cô ấy rất yêu New York như Ronnie dù chưa đến bao giờ. Cô ấy có hỏi về Tháp Đồng Hồ và các các nhà cao tầng ở Bang New York với tượng Nữ Thần Tự Do—nơi Ronnie đến không biết bao nhiêu lần rồi. Nhưng Ronnie đã khiến cô ta hài long khi tả chân thực New York: câu lạc bô ở Chelsea, âm nhạc ở Brooklyn, và cửa hàng bán đồ Tàu, nơi có thể mua rượu lậu hay túi Parda giả hoặc nhiều thứ khác chỉ mất vài đôla.

Nói về những nơi đó khiến nó chẳng muốn về nhà. Nơi nào cũng được trừ ở đấy

“Tớ cũng chẳng muốn đến nữa,” Blaze gật gù. “Tin tớ đi, chán lắm.” Ronnie được thể.

“Cậu sống ở đó bao lâu rồi?”

“Gần như cả đời rồi. Nhưng ít nhất tớ vẫn mặc đẹp được.”

Ronnie mua áo Nemo ngu ngốc đó, biết nó trông sẽ rất buồn cười. Cửa hàng chỉ có một chiếc phủ đến đầu gối nó. Nó chỉ mặc một lần để trốn bố thôi. Blaze đúng về chuyện đó đấy.

“Làm ơn có ai bảo Nemo tuyệt vời đi.”

“Cô ta nói dối đây.”

“Sao chúng ta còn ngồi đây nhỉ. Bố tớ sắp đến rồi.”

Blaze hỏi. “Sao thế? Cậu không trở lại lễ hội à. Sao không vào nhà săn ý?”

“Không. Sắp có chuyện khác xảy ra rồi.”

“Chưa đâu. Nhưng bây giờ, hãy chờ xem.”

“Chờ cái gì?”

Blaze không đáp.Thay vào, cô ta ngồi và quay 1 vòng. Tóc bay trong gió, cô ngước lên mặt trước. “Cậu biết không, tớ đã nhìn thấy cậu từ trước rồi.”

“Khi nào vậy?”

“Từ lúc cậu ở trận bóng chuyền cơ.” Cô hướng về mũi tàu. “Tớ đứng ở đấy.”

“Và?”

“Rồi cậu bỏ đi.”

“Cậu cũng thế mà.”

“Đó là lý do tớ đứng trên bến tàu.” Cô nhảy qua, nhìn Ronnie. “Tớ biết cậu không muốn đến đây. Nhưng bố cậu đã làm gì khiến cậu giận đến thế?”

Ronnie đặt lòng bàn tay lên quần. “Chuyện dài lắm.”

“Ông có vợ mới à?”

“Tớ không nghĩ thế. Tại sao chứ?”

“Cậu may mắn đấy.”

“Cậu nói gì vậy?”

“Bố tớ sống với vợ mới sau khi ly hôn, mà vợ mới cực kỳ khủng khiếp. Bà ta hơn tớ vài tuổi mà ăn mặc y như vũ nữ thoát y. Mà đúng là thế thật. Mỗi khi đến đây bà ta đều khiên tớ bực mình. Giống như bà ta chẳng biết diễn kịch ý. Ban đầu thì cố tỏ ra như mẹ thật, nhưng 1 phút sau thì... Tớ ghét bà ta.”

“Cậu sống với mẹ à?” “Ừ, nhưng giờ mẹ tớ cặp bồ. Hắn ở nhà tớ suốt ngày. Mà hắn dở hơi cực. Hắn đội tóc vì bị hỏi, và hắn luôn hỏi tớ có muốn hỏi việc tớ vào đại học. Cứ tỏ vẻ quan tâm ý. Tất cả chỉ là ngụy biện thôi, cậu hiểu không?”
Trước khi Ronnie trả lời, Blaze hạ giọng. “Tớ nghĩ họ sắp bắt đầu rồi, cậu sẽ thấy thôi.”

Ronnie theo Blaze trở lại bến tàu, theo đám đông xem một show diễn đường phố. Giật mình, nó nhận ra ba người trên đó chính là 3 người nó nhìn thấy trước. 2 trong số đó là vũ công breakdance nhảy theo boom box, trong khi người tóc dài đứng giữa diễn xiếc. Và rồi anh ta dừng lại và bắt bóng một cách dễ dàng, xoay giữa các ngón hoặc lăn trên mu bàn tay or hoặc đặt lên đặt xuống. 2 lần, anh nắm tay trên quả cầu lửa, gần nó, di trên tay, cho lửa thoát ra khỏi khe nhỏ trên tay cái.

“Cậu biết anh ta chứ?” Ronnie hỏi.

Blaze gật đầu. “Marcus.”

“Anh ta đang đeo găng tay bảo vệ à?”

“Không.”

“Sao anh ta không bị bỏng?”

“Không nếu cậu biết giữ quả cầu. Thật tuyệt vời phải không?”

Ronnie chỉ còn biết đồng ý thôi. Marcus tắt lửa hai quả cầu và rồi châm lên bằng cách chạm vào 1/3 quả. Trên mặt đất cậu lật mũ ảo thuật lên, và Ronnie thấy mọi người ném tiền vào đó.

“Cậu ấy có quả cầu đó ở đâu vậy?”

“Cậu ta tự làm đó. Tớ có thể chỉ cho cậu. Không khó đây. Cậu chỉ cần 1 chiếc áo cotton, kim và sợi, và chút chất lỏng nhẹ thôi”

Nhạc vẫn vang lên, Marcus tung 3 quả cầu vào anh chàng kia và giả tiếng thổ dân và đốt 2 quả nữa. Họ đặt lại giữa nhau giống như anh hề, dùng quả bowling, nhanh hơn, đến khi một người ném xiên đi. Anh chàng với lông mày xô lại bắt lấy như bắt bóng và bắt đầu nhảy vụt ra như thể quả bóng bawling vậy. Sau khi dập 3 quả cầu lửa, 2 người kia theo sau, cả đoàn đá 2 quả cầu về phía trước và nằm giữa nhau. Đám đông vỗ tay ào ào, tiền rơi như mưa. Rồi tất cả, những quả cầu còn lại đều được bắt lại khi bài hát kết thúc.

Ronnie phải thừa nhận nó chưa hề xem thứ gì hay hơn thế. Marcus đến chỗ Blaze và hôn rất lâu giữa đám đông. Anh ta từ từ mở mắt, nhìn Ronnie trước khi bỏ Blaze ra.

“Ai thế em?” Marcus nhìn Ronnie hỏi Blaze

“Ronnie,” Blaze trả lời. “Cô ấy từ New York. Em vừa quen xong.”

2 anh chàng kia đến chỗ Marcus và Blaze, Ronnie tỏ vẻ khó chịu.

“New York, hà?” Marcus hỏi, đút ra từ túi 1 quả cầu.
He đốt quả cầu đó lên bằng 2 ngón cái và ngón trỏ, khiến Ronnie tiếp tục ngạc nghiên không hiểu làm sao anh ta có thể làm thế được mà không cần diêm và bật lửa

“Em thích lửa không?” anh hỏi

Không đợi trả lồ, anh ném quả cầu vào chỗ nó. Ronnie giật mình nhảy lên. Quả bóng đậu xuống dưới chân nó giống như cứu hỏa xô vào đám lửa

“3 cậu,” anh ta gọi, chỉ. “Ra ngoài ngay. Tôi nói các cậu trước khi cậu không thể làm gì trên tàu và lần sau thì các cậu liệu đấy.”

Marcus nắm tay và bước đi. “Bọn anh đi nhé.”

Các anh chàng lấy áo khoác và rời bến, về phía cuộc đua lễ hội. Blaze đi theo, để Ronnie một mình. Ronnie cảm thấy người bảo vệ nhìn chằm vào mình, nhưng nó mặc kệ. Thay vào đó, nó ngập ngừng một lúc rồi theo sau họ.

Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2009

The Last Song Phan 2

Soz bà con nghen, tại chương này dài quá nên dịch rõ lâu. Chương 3 sẽ còn dài hơn nữa đấy. Các bạn ráng chờ nghen. Bật mí: Chương sau sẽ xuất hiện nhân vật Will - bạn trai của Ronnie sau này.

Chương 2: Steve
Steve Miller – bố của Ronnie - chơi đàn piano với âm độ mạnh, đang tự hỏi bao giờ con mình sẽ đến. Cây đàn được đặt ở một góc nhỏ phòng khách nhỏ trong ngôi nhà gần bãi biển. Đằng sau là những trang lịch sử về cuộc đời của ông. Không nhiều lắm. Bên cạnh chiếc đàn, Kim – mẹ của Ronnie – đã từng đưa đồ đạc của ông vào một chiếc hộp, và phải mất ít nhất nửa giờ để đưa mọi thứ về đúng chỗ. Có một bức ảnh chụp ông bà khi bố còn trẻ, một ảnh bố chơi piano khi còn đi học. Chúng được đặt ở hai góc khung ảnh bố được tặng, một bức từ Chapel Hill và một bức từ trường Đại học Boston, dưới là giấy chứng nhận của trường Juilliard sau khi ông dạy học được 15 năm. Gần cửa sổ là 3 tờ lịch trình đi diễn của ông. Quan trọng nhất, dù là một nửa tá bức ảnh của Jonah và Ronnie, chúng đều được treo lên tường hay đóng khung và sau khi đánh đàn, ông đều ngắm nhìn, ông tự nhắc nhở mình là không phải lúc nào mọi chuyện cũng xảy ra như ý muốn của mình.

Mặt trời lúc xế chiều đã chiếu qua cửa sổ, khiến bên trong ngôi nhà trở nên ngột ngạt, và Steve có vẻ lo lắng. May mắn, cơn đau dạ dày của ông đã đỡ đi từ sáng, nhưng ông vẫn cảm thấy lo lo, và ông biết nó sẽ quay lại. Dạ dày của bố Ronnie rất yếu; khi ông 20 tuổi, ông phải vào viện vì bị loét dạ dạy; năm 20 tuổi, ông phải đi mổ ruột thừa sau khi mẹ mang thai Jonah. Ông nhai thuốc Rolaids như kẹo, ông phải uống Nexium nhiều năm, dù ông biết mình có thể ăn tốt hơn và tập thể dục nhiều hơn. Vấn đề dạ dày luôn khiến gia đính lo lắng.

Cái chết của ông nội 6 năm trước đã khiến ông thay đổi, từ khi tang lễ, ông cảm thấy thời gian sống của mình đang đếm ngược. Với lại ông cảm thấy đã có mọi thứ mình muốn rồi. 5 năm trước, ông đã nghỉ ở Juilliard, 1 năm sau, ông đã quyết định thứ làm nhạc công piano xem. 3 năm sau, bố mẹ Ronnie ly hôn; chưa đầy 1 năm, chuyến lưu diễn bị ngừng lại đến khi họ hoàn thành xong. Năm ngoái, ông trở lại thị trấn nơi ông trưởng thành và ông nghĩ sẽ không bao quay lại 1 lần nữa. Giờ ông đang nghĩ đến việc mình sẽ dành toàn bộ hè này cho con mình, cố gắng để hình dung những gì mà mùa thu sẽ mang lại một lần cho Ronnie và Jonah trở lại tại New York, ông chỉ biết rằng lá sẽ màu vàng trước khi chuyển sang màu đỏ và vào buổi sáng hơi thở của ông. Ông đã muốn từ lâu từ khi bỏ dự đoán tương lai của mình.

Điều này không khiến ông bận tâm. Ông biết điều đó là vô nghĩa, và bên cạnh, ít khi ông có thể hiểu được quá khứ của mình. Những ngày này, tất cả những điều ông có thể khẳng định là ông rất bình thường trên thế giới còn người yêu là bất thường, và ông cảm thấy thất vọng về đời mình. Nhưng ông thì có thể làm gì chứ? Trừ mẹ Ronnie, những người thân và bạn mình, ông luôn lặng lẽ. Dù ông có thể soạn nhạc, ông vẫn chưa đủ sức hút hay độ đánh bong tên tuổi hoặc bất cứ gì để nổi tiếng. Những lúc này, đôi khi ông nghĩ những sự thất bại đó thật quan trọng. Ông đã 48 tuổi. Cuộc hôn nhân tan vỡ, Ronnie tránh mặt bố, còn Jonah lớn lên không hề có bàn tay chăm sóc của ông. Nghĩ lại, ông biết ngoài ông ra, không phải có thể trách ông được, và bất cứ cái gì khác ông đều muốn biết được: Một người như ông liệu có thể thấy được sự hiện diện của Chúa không?

10 năm trước, ông không thể tự hỏi mình về điều này. Kể cả 2 năm sau cũng không. Nhưng bắt đầu sang tuổi trung niên, thỉnh thoàng ông nghĩ, ông giống như chiếc tấm gương phản chiếu. Dù có lần ông tin rằng câu trả lời đó nằm trong những bản nhạc ông ấy viết, ông vẫn nghĩ mình đã nhầm. Càng nghĩ nhiều, ông càng nhận thấy rằng đối với mình, âm nhạc có xu hướng về sự thực tế hơn là sự sâu xa. Ông đã có kinh nghiệm và niềm đam mê với đàn Tchaikovsky hay cảm thấy vui vẻ khi hoàn thành một bản sonata do ông viết, nhưng giờ ông biết rằng sự gắn bó với âm nhạc của mình không nhiều bằng sự mong muốn ích kỷ của mình khi muốn thoát khỏi thế gian này với Chúa.

Giờ ông tin rằng câu trả lời thực sự nằm đâu đó ở tình thương của ông với Ronnie và Jonah, ông cảm thấy nhức nhối khi tỉnh dậy trong căn nhà yên tĩnh và nhận ra bọn trẻ không có ở đây. Nhưng sau đó, ông biết còn gì hơn thế. Và bằng cách nào đấy, ông hi vọng chúng sẽ giúp ông tìm câu trả lời.

Vài phút sau, ông Steve thấy mặt trời phản chiếu hình ảnh chiếc xe đầy bụi bên ngoài. Bố mẹ Ronnie đã mua đó nhiều năm để đi chơi Costo vào cuối tuần và họp gia đình. Ông tự hỏi liệu mẹ Ronnie có nhớ thay dầu trước khi lái xuống đây hoặc thậm chí kể từ khi ông rời đến. Có lẽ không. Bà Kim không bao giờ nhớ những thứ đấy, đó lý do ông luôn lo lắng vì họ.
Nhưng một phần của cuộc đời ông đã qua rồi.

Ông Steve ngồi lên ghê, đúng lúc ông bước qua cổng, Jonah đã nhảy ra khỏi xe và chạy về phía ông. Tóc ông không được chải, chiếc kính gập lại, tay chân thì gầy guộc như chiếc bút chì. Steve cảm thấy cổ họng như bị thắt lại, như muốn nhắc trong ba năm qua ông đã mất những gì.

“Bố!”

“Jonah!” Steve đáp, ông vượt qua đống cát đá trong sân. Khi Jonah nhảy lên cánh tay mình, ông cố gắng giữ đôi tay thật thăng bằng.

“Con lớn quá,” ông nói

“Sao trông bố gầy thế!” Jonah nói

Steve ôm chặt con trai mình trước khi đặt nó xuống. “Con đến đây khiến bố rất vui.”

“Con cũng thế. Mẹ và chị Ronnie phải mất nhiều thời gian mới đến đây được.”

“Điều đó thật chẳng vui vẻ gì”.

“Không sao cả. Con mặc kệ.”

“Ừ,” Steve trả lời

Jonah đẩy kính lên sống mũi. “Sao mẹ không cho bọn con đi máy bay?”

“Con hỏi mẹ chưa”

“Chưa ạ.”

“Con nên hỏi đi.”

“Không quan trọng đâu. Con chỉ tự hỏi thôi.”

Steve mỉm cười. Ông quên mất con trai mình có thể nói nhiều đến mức nào.

“A, đây là nhà của bố à?”

“Ừ.”

“Nơi này thật tuyệt vời!”

Steve tự hỏi Jonah có khen thật sự không. Ngôi nhà chẳng có gì nhưng rất tuyệt. Ngôi nhà gỗ này là ngôi nhà cổ nhất ở bãi biển Wrightsville và giữa hai ngôi nhà khổng lồ đó trong 10 năm liền, càng khiến nó trở nên nhỏ bé hơn. Lớp sơn bị bong, mái bị mất nhiều lớp, còn cổng thì mục nát; nó chẳng khiến ông ngạc nhiên nếu như lại có cơn gió bão thổi qua. Từ khi ông chuyển về đây, chưa có nhà nào nói chuyện với ông.

“Con có nghĩ thế không?”

“Nó nằm ngay trên bãi biển. Còn muốn gì hơn thế?” Jonah chỉ về hướng biển. “Con có thể ra xem được không?”

“Chắc chắn rồi. Nhưng phải cẩn thận và phải ở phía sau nhà. Đừng đi lang thang đấy.”

“Vâng.”

Bố Steve nhìn Jonah chạy thì mẹ Kim đến. Ronnie đã ra khỏi xe nhưng vẫn còn nán lại.

“Kim,”

“Steve.” Mẹ ôm bố một cái. “Anh khỏe không? Trông anh gầy quá.”

“Anh không sao mà.”

Đằng sau, ông thấy Ronnie chậm chạp đi lại. Ông cảm thấy đau long khi nhìn những hình ảnh con mình thay đổi mà mẹ Kim gửi qua e-mail. Trong tất cả các cô gái Mỹ mà ông nhớ, và nơi này có một cô gái với mái tóc nâu sọc tím, móng tay đen, và bộ quần áo tối. Mặc dù có bao nhiêu cô gái nổi loạn, ông nghĩ nó cũng phải giống mẹ. Cũng tốt thôi. Ông lại nghĩ nó đáng yêu hơn bao giờ hết
Ông cố nói. “Bố rất vui khi gặp con, con yêu.”

Ronnie không trả lời, mẹ nó chau mày. “Không được hỗn láo thế. Bố nói với con kìa. Nó gì đi.”

Ronnie bắt chéo tay. “Được rồi. Thế nào đây? Con sẽ không chơi piano cho mẹ đâu.”

“Ronnie!” Steve thấy Kim giận dữ.

“Cái gì?”

“Con tưởng con sẽ ra khỏi đây sớm.”

Trước khi mẹ nó trả lời , bố nó lắc đầu. Điều cuối cùng ông có thể nói. “Kim, không sao đâu”

“Mẹ, vâng, không sao,” Ronnie ngắt lời. “Con sẽ đi dạo một lát.”

Rồi nó một cách nặng nề, Steve thấy Kim cố bắt Ronnie quay lại. Cuối cùng, bà chẳng nói gì nữa.
“Lái xe lâu lắm à?” ông hỏi, cố gắng làm dịu.

“Anh không thể tưởng tượng nổi đâu.”

Ông cười, nghĩ rằng thật dễ dàng khi nghĩ cả hai người vẫn còn yêu nhau.

Sau khi dỡ các túi xuống, Steve vào bếp, nơi ông để đá lạnh ở cái khay cũ rich và để chúng vào kính.

Đằng sau, ông thấy Kim vào bếp. Ông rót 2 tách trà ngọt, và đưa một tách cho bà. Ngoài kia, Jonah đang đuổi theo lũ mòng biển trên sóng.

“Jonah có vẻ vui nhỉ,” ông nói.

Kim bước gần cánh cửa. “Nó rất háo hức khi ở đây hơn một tuần đây”

“Nó nhớ anh lắm.”

“Anh cũng thế.”

“Em biết,” bà nói. Bà uống trà trước khi liếc qua bếp. “Đây chính là bếp đây hả? Nó thật đặc biết.”

“Giả sử em thấy cái mái nhà bị thủng mà không có điều hòa không khí thì sao nhỉ?”

Bà khẽ cười.

“Anh biết là không nhiều. Nhưng nó rất yên tĩnh và anh có thể xem mặt trời mọc.”

“Và nhà thờ là nơi khiến anh có thể ở thoải mái đúng không?”

Steve gật đầu. “Nhà thờ nó là của Carson Johnson. Ông ấy là nghệ sỹ địa phương, trước khi ông mất, ông để lại nó. Pastor Harris cho anh ở đây đến khi họ bán nó.”

“Giống như trở về nhà nhỉ? Ý em là ông bà từng sống ở đây đúng không? Ba người ở đây?”

Thực ra là 7. “Được rồi.” Ông nhún vai…

“Bây giờ thật là đông đúc. Nơi này thật sự thay đổi kể từ lần cuối em về đây.”

“Mọi thứ đều thay đổi,” ông nói. Ông bắt chân “Đây là một ngày lớn đúng không?” ông hỏi, đổi chủ đề. “Với em và Brian?”

“Steve… chuyện đó thì.”

“Không sao,” ông nói, giơ một tay lên cao. “Anh rất mừng khi em tìm được một người.”

Bà nhìn ông, tự hỏi ông ấy liệu có chấp nhận hay không.

“Vào tháng 1,” bà nói. “Và em muốn anh biết với bọn trẻ… Brian không hề giả vờ. Anh sẽ quý anh ấy thôi.”

“Chắc chắn,” ông nói, uống một ngụm trà. Ông bỏ kính xuống. “Các con nghĩ thế nào về anh ta?”

“Jonah có vẻ quý, nhưng Jonah quý tất cả mọi người.”

“Còn Ronnie?”

“Nó mặc kệ anh ta giống như nó mặc kệ anh.”

Ông cười trước khi thấy bà có vẻ lo lắng. “Nó thế nào rồi?”

“Em không biết.” Bà thở dài. “Em cũng không biết nó làm gì nữa. Nó đang lớn. Nó mặc kệ giờ giới nghiêm, và em không thể nhận được gì ngoài câu ‘Gì cũng được’ khi em cố trò chuyện với nó. Em cố trò chuyện với nó như một thiếu niên, nhưng…” Bà lắc đầu.

“Em thấy cách ăn mặc của nó rồi đầy. Và cái mái tóc với cái mascara của nó trông thật phát khiếp”

“Mmm.”

“Còn gì nữa?”

“Còn tồi tệ hơn.”

Kim định nói gì đó, nhưng rồi thôi, Steve biết mình đã đúng. Dù chuyện gì xảy ra, dù bà Kim có sợ bất cứ cái gì, Ronnie vẫn mãi là Ronnie.

“Em đoán thế,” bà thừa nhận, trước khi lắc đầu. “Không, em nghĩ anh đúng đấy. Chỉ là dạo này em đấy nó có vẻ khó khăn hơn thôi. Nhiều lúc nó cũng rất đáng yêu. Với Jonah chẳng hạn. Mặc dù chúng nó như chó với mèo ý, nhưng Ronnie vẫn hay dắt Jonah tới công viên cuối tuần. Và Ronnie vẫn hay kèm toán cho Jonah. Điều lạ là nó vẫn đủ điểm để tốt nghiệp. Em chưa nói với anh về chuyện này, nhưng em đã bảo nó thi SATs vào tháng Hai này. Câu nào nó cũng trả lời sai. Mà anh biết trả lời thế đủ để hiểu nó thông minh thế nào rồi phải không?”

Steve cười, Kim cau mày. “Chuyện đó chẳng hay tí nào đâu.”

“Nó thật là buồn cười”

“Anh không ở với nó nên mới thấy thế đây.”

Ông dừng lại. “Em nói đúng. Anh xin lỗi.” Ông đeo kính vào. “Người ta nói gì về chuyện nó ăn cắp đồ cửa hàng?”

“Em nói với anh qua điện thoại rồi,” bà rầu rĩ. “Nếu nó không gây rắc rối, hồ sơ của nó đã không ghi chuyện đó rồi. Nếu nó lại làm thế thì…”.
“Em đang lo về chuyện này đây,”
Bà Kim tiếp tục. “Đây không phải lần đầu nó gây rắc rối đâu,” bà thừa nhận. “Nó thú nhận đã trộm cả vòng tay năm ngoái cơ, nhưng lần này, nó nói nó đã mua một đống thỏi son ở hàng thuốc và nó không giữ được, nên nó giữ hết trong túi. Nó còn mua nhiều thứ khác, khi anh xem đoạn videos, có lẽ như một tội lỗi, nhưng…”

“Nhưng em không chắc chắn.”

Khi Kim không trả lời, Steve lắc đầu. “Nó đang trên đường đến để nộp hồ sơ cho chương trình America’s Most Wanted. Nó có lỗi thật. Nhưng có một trái tim tuyệt hời.”

“Không có nghĩa là nó sẽ nói thật với em.”

“Cũng chẳng có nghĩa là nó sẽ nói dối.”

“Anh tin nó hả?” Câu nói của bà chứa cả hy vọng lẫn hoài nghi.

Từ khi bà mới nói chuyện đó, ông có cảm giác như đã thế này cả chục lần rồi. “Phải,” ông nói. “Anh tin nó.”

“Tại sao?”

“Vì nó là đứa trẻ tốt.”

“Sao anh biết được?” Lần đầu tiên trông bà ấy nói có vẻ giận dữ. “Lần cuối anh định đến chơi với nó, nó phải thi tốt nghiệp trung học.” Nói xong, bà bắt tay lại rồi nhìn ra cửa sổ. Giọng nói có vẻ cay đắng hơn khi bà mới vào. “Anh biết anh có thể quay về. Anh có thể dạy học lại ở New York. Anh không phải đi khắp đấy nước này, không phải chuyển nhà… anh có thể chăm sóc bọn trẻ.”
Câu nói đó khiến ông cảm thấy đau đớn, ông biết bà nói đúng. Nhưng điều đó không hề đơn giản, lý do thì họ đều biết, dù họ chẳng thừa nhận điều đó.

Im lặng một lúc, Steve nói tiếp. “Anh chỉ cố để nói Ronnie đúng hay sai. Dù nó có thay đổi rất nhiều, nó vẫn luôn là chính nó. Dù chuyện gì xảy ra, nó vẫn không thay đổi.”

Trước khi bà Kim phản ứng, Jonah đến cửa trước, má nó ửng lên.

“Bố! Con tìm thấy một phân xưởng rất tuyệt vời! Đi nào bố, con muốn chỉ cho bố biết!”

Bà Kim nhíu mày.

“Nó ở ngoài cửa sau,” Ông Steve nói. “Con muốn xem chứ?”

“Tuyệt vời, Mẹ ơi!”

Bà Kim trả lời. “Không,” bà nói. “Đây là việc của hai bố con. Với lại mẹ cũng đến rồi.”

“Thật hà mẹ?” Jonah hỏi.

Steve biết với Kim khó khăn thế nào, và ông trả lời hộ bà. “Mẹ con đã lái xe một đoạn đường rất dài. Hơn nữa, bố muốn đưa con tới lễ hội tối nay. Hay chúng ta sẽ đến thay vì đến phân xưởng nha?”

Steve thấy Jonah có vẻ hơi lưỡng lự.

“Cũng được bố ạ,” nó nói,

Sau khi Jonah chào mẹ—Ronnie vẫn không biết ở đâu, theo bà Kim, nó sẽ không về sớm đâu—Steve và Jonah dạo qua phân xưởng.

3 tháng qua, Steve đã dành phần lớn buổi chiều dạo quanh những nơi mà Jonah đang muốn khám phá. Ở phía trung tâm của phân xưởng là cái bàn làm việc rộng lớn với cái cửa số kính màu ở phía đầu, nhưng Jonah có vẻ thích những miếng bông kỳ lạ trên giá, người làm ra phải rất đặc biệt. Thật khó để không bị mê hoặc bởi những cái đầu của con sóc/con cá vược hoặc đầu con thú có túi trên mình con gà.

“Những thứ này là gì hả bố?” Jonah hỏi.

“Chắc chắc chúng được vẽ ra.”

“Con tưởng vẽ là phải dính dáng đến bút với màu.”

“Đôi khi mỹ thuật còn là những thứ khác nữa.”

Jonah nhăn mũi, nhìn chăm chú vào đầu thỏ với đầu rắn. “Chẳng giống như là vẽ cả.”

Steve cười, Jonah để ý đến chiếc cửa sổ kính mầu trên bàn làm việc. “Của ông ấy hả bố?” nó hỏi.

“Của bố đấy. Bố làm cho cái nhà thờ này ở cuối đường. Nhà thờ bị cháy năm ngoái, cái cửa sổ
nguyên gốc cũng bị hỏng.”

“Con không biết bố có thể làm được cả cửa sổ.”

“Tin không tùy con, họa sỹ từng sống ở đây đã dạy bố đấy.”

“Người tạo ra những con thú này hả bố?”

“Đúng vậy.”

“Bố biết ông ấy?”

Steve chỉ cái bàn. “Khi bố còn bé, bố hay trốn chơi ở đây khi bố phải đọc Kinh Thánh. Ông ấy đã làm rất nhiều cửa sổ kính màu cho các nhà thờ. Nhìn bức ảnh trên tường kìa” Steve chỉ bức ảnh nhỏ của Chúa Kito trên giá. “Hi vọng, nó sẽ như thế này khi được xây lại.”

“Tuyệt vời,” Jonah nói, và ông Steve mỉm cười. Đó là từ yêu thích của Jonah, ông tự hỏi không biết mình đã nghe câu đó bao nhiêu lần trong hè rồi.

“Con muốn giúp bố không?”

“Con có thể giúp bố ư?”

“Bố đã suy tính.” Steve nhẹ nhàng. “Bố cần một trợ thủ đắc lực.”

“Có khó không ạ?”

“Bố đã bắt đầu lúc bằng tuổi con, chắc chắn con có thể làm được.”

Jonah thận trọng nhặt một mảnh thủy tinh, giữ chặt nó, rồi nói. “Chắc chắn con cũng làm được.”

Steve cười. “Con sẽ đến nhà thờ chứ?”

“Vâng. Nhưng không phải là nơi bọn con hay đến. Phải là nhà thờ mà Brian thích đến. Ronnie không hay đến đó với bọn con. Chị ấy khóa mình trong phòng và từ chối đi, nhưng khi bọn con vừa rời nhà, chị lại đến Starbucks với bạn chị ý. Khiến mẹ bực mình lên.”

“Tuổi mới lớn là thế đấy. Chúng luôn chống đối bố mẹ lắm.”

Jonah đặt mảnh thủy tinh lên bàn và nói. “Con sẽ không thế đâu. Con sẽ luôn luôn ngoan. Nhưng con chẳng thích đi nhà thờ lắm. Chán chết!”

“Đủ rồi.” Ông dừng lại. “Bố nghe nói mùa thu đấy con sẽ không chơi đá bóng.”

“Con chẳng chơi giỏi đâu.”

“Sao thế? Nó vui mà”

“Không khi những đứa trẻ khác đem con ra làm trò đùa.”

“Chúng dám làm thế à?”

“Không sao đâu. Con chả quan tâm.”

“Ah,” Steve nói.

Jonah lê chân, rõ rang nó nghĩ gì trong đầy. “Chị Ronnie không hề đọc thư bố gửi. Chị ấy cũng chẳng đánh đàn piano”

“Bố biết,” Steve đáp.

“Mẹ nói đó là vị chị có HCNX.”
Steve hỏi nhanh. “Con biết nó có nghĩa là gì không?”

Jonah đẩy kính lên. “Con không còn là trẻ con nữa. Nó có nghĩa là “Hội chứng ngu xuẩn”.”

Steve cười, xoa đầu Joanah. “Chúng ta tìm chị con đi. Có thể chị đang ở lễ hội đấy.”

“Chúng ta có thể lái xe Ferris được không bố?”

“Bất cứ cái gì con muốn.”

“Tuyệt vời.”

The Last Song Phan 1

Hi everyone, chắc mọi người cũng biết bộ phim The Last Song của Miley Cyrus sẽ ra mắt tại rạp chiếu phim vào năm sau nhỉ
Tớ vừa tải cuốn tiểu thuyết đó về, nhưng hoàn toàn bằng Tiếng Anh 100% nên đang translate cho pà con nghe đây
(cũng phải mất 1 giờ mới xong được 1 chương đấy, quá mệt lun)
Hy vọng pà con sẽ thik để ko phụ công tớ mất mấy giờ để dịch xong
Tớ mới dịch đc. bằng này thui, sẽ post sau nghen

Chương mở đầu
Ronnie
Nhìn ra ngoài cửa sổ, Ronnie thầm hỏi không biết thầy Pastor Harris đã ở nhà thờ chưa. Nó cho rằng ông ấy chắc ở đó rồi, và nó ngắm nhìn những con sóng biển đang vỗ bờ, tự hỏi liệu thầy ấy có thể biết ánh sáng tuyệt diệu ấy đang ùa vào cửa kính màu không. Chắc là không—cửa số đã được đặt hơn một tháng rồi, với lại, chắc ông thầy ấy không buồn quan tâm đến những thứ khác đâu. Ronnie vẫn muốn có ai đó mới đặt chân lên thị trấn này phải đến nhà thờ vào buổi sáng và chứng kiến những gì mà nó cảm nhận được khi mới nhìn thấy ánh sáng nhà thờ lần đầu vào tháng 11 lạnh buốt. Và nó hi vọng người đó phải bỏ chút thời gian để thấy chiếc cửa số này đến từ đâu và biết được cái đẹp của nó.

Nó đã thức suốt 4 tiếng rồi, nhưng nó chẳng muốn bắt đầu một ngày mới. Kỳ nghỉ năm nay có vẻ thật khác thường. Hôm qua, Ronnie đã đưa em trai mình là Jonah dạo quanh bãi biển. Khắp nhà quanh đây đều treo cây thông Noel trên sàn nhà. Cũng trong năm đó, chúng đã có bãi biển tuyệt đẹp cho mình, nhưng Jonah thấy cả tiếng sóng lẫn mòng biển chẳng hay ho chút nào, dù nó đã rất thích từ trước đó. Thay vào đó, Jonah chỉ muốn đi tới phân xưởng, và Ronnie đã đưa nó đến đó, nhưng nó chỉ ở lại đấy vài phút và quay về mà không nói lấy một lời.

Trên tủ giường của Ronnie, cạnh chồng đống ảnh ở góc giường, cùng với những thứ nó lượm được vào buổi sáng. Trong im lặng, Ronnie nghiên cứu chúng đến khi bị cái gõ cửa làm gián đoạn. Mẹ Ronnie ấn vào đầu nó một cái

"Con có muốn ăn sáng không? Mẹ có một ít ngũ cốc trên tủ chạn."

"Mẹ, con không đói."

"Con phải ăn chứ con."

Ronnie tiếp tục nhìn chằm chằm vào đống ảnh, chẳng thấy gì cả. "Mẹ, con sai rồi. Con chẳng biết phải làm gì bây giờ."

"Về bố con?"

"Về mọi thứ."

"Con có muốn nói về nó nữa không?"

Ronnie không trả lời, mẹ nó vào phòng và ngồi cạnh nó.

"Đôi khi mọi chuyện sẽ giải quyết được nếu con nói. Con không nói gì suốt mấy tiếng rồi."

Tức thì, Ronnie cảm thấy choáng trước những gì nó nhớ được: đám cháy và việc sau khi xây lại nhà thờ, cửa số kính màu, bản nhạc nó viết xong. Nó nghĩ về Blaze, Scott và Marcus. She nghĩ về Will. Nó đã 18 tuổi và nó nhớ tới mùa hè mà nó đã phản bội, mùa hè mà nó đã bị bắt giữ, mùa hè mà nó bắt đầu biết yêu. Mùa hè đó cách đây không lâu, nhưng đôi khi nó muốn trở thành một con người hoàn toàn khác sau đó.

Ronnie thở dài. "Thế còn Jonah đâu?"

"Em không ở đây. Brian đưa nó tới hang giầy rồi. Nó như một con chó con ý. Chân nó còn to nhanh hơn cả người."

Ronnie cười, nhưng nụ cười đó chấm dứt nhanh. Trong sự im lặng, nó thấy tóc mẹ đang dài ra và được cột sau lưng. Mẹ đã làm thế từ khi Ronnie còn là một đứa bé. Kỳ là, nó cảm thấy dễ chịu hơn hẳn. Dĩ nhiên là nó không muốn thừa nhận điều đó.

"Mẹ sẽ nói gì với con nào," mẹ nó nói tiếp. Bà đến buồng và đặt chiếc vali lên giường. "Tại sao con không nói trong lúc đóng gói vali nhỉ?"

"Con thậm chí còn chẳng biết bắt đầu từ đâu."

"Thế còn lúc đầu thì sao? Jonah có nói gì đó về rùa thì phải?"

Ronnie bắt chéo hai tay, biết câu chuyện không hề bắt đầu từ đó."Không hẳn," nó nói. "Kể cả con không hề có mặt khi nó xảy ra, con nghĩ mùa hè bắt đầu với lửa."

"Lửa nào?"
Ronnie đặt chồng ảnh lên tủ và nhẹ nhàng rút tờ bào giữa hai khung. Nó đặt lên tay mẹ tờ báo màu vàng.

"Đám cháy đó," nó nói. "Đám cháy ở nhà thờ."

Tờ báo đó có ghi :

Vụ đốt pháo bất hợp pháp ở nhà thờ Blaze

Pastor bị thương

Vụ cháy ở Wrightsville Beach, NC—A phá hùy Lễ Rửa Tội đầu tiên trong Năm Mới, các nhà chức trách đang điều tra vụ việc bất hợp pháp này.

Những người cứu hỏa đã gọi một người không rõ tên tuổi đến nhà thờ bên bờ biển. Tim Ryan, trưởng đội cứu hỏa bãi biển Wrightsville Beach cho biết chỉ sau nửa đêm, khói bốc ra từ sau nhà thờ. The remains of a bottle rocket, an airborne firework, were found at the source of the blaze.
Pastor Charlie Harris đã ở trong nhà thờ khi đám cháy bắt đầu và bị bỏng cấp độ 2 ở cánh và bàn tay. Ông đã được gửi tại Trung tâm Y tế ở New Hanover và đang được điều trị ở chế độ đặc biệt.
Đây là lần thứ hai xảy ra đám cháy tại nhà thờ ở thành phố New Hanover, trước đám cháy đầu tiên cách đây mấy tháng. Tháng 11, Giáo hội ở Wilmington đã bị tấn công. "Các nhà chức trách đang điều tra, có khả năng là một vụ đốt pháo," Ryan cho biết.

Các nhân chứng cho biết gần 20 phút trước đám cháy họ có thấy nhiều lọ pháo trên bãi biển phía sau nhà thờ, giống như pháo hoa mừng năm mới. "Đốt pháo là điều bất hợp pháp ở miền Bắc California, đặc biệt rất nguy hiểm trong mùa khô này" Ryan cảnh báo. "Đám cháy này cho chúng ta thấy rõ điều đó. Một người đang nằm viện và nhà thờ thì bị thiệt hại hoàn toàn."

Mẹ Ronnie đọc xong, bà nhìn lên đôi mắt Ronnie. Ronnie do dự; rồi, thở dài, nó bắt đầu kể mọi chuyện dù nó cảm thấy chuyện đó rất vô nghĩa.

Chương 1: Ronnie
Sáu tháng trước

Ronnie lừ đừ trên ghế trước ô tô, tự hỏi sao trên thế gian này bố mẹ chẳng yêu thương mình chút nào cả.

Điều duy nhất có thể hiểu được là Ronnie đang đến thăm bố của nó ở một nơi tồi tàn tận phía Nam, thay vì đến chơi với bạn ở Manhattan.

Không đâu. Nó không hề đến thăm bố nó. Đến thăm cũng chỉ khoảng 1 hoặc 2 ngày cuối tuần, hoặc là cả tuần thôi. Nó nghĩ mình có ở đây được. Nhưng ở tận cuối tháng 8? Trong mùa hè thế có phải là quá nhiều chăng? Cứ như là bị đày ải không bằng, Đến đó cũng phải mất tới 9 tiếng đồng hồ, Ronnie cảm thấy mình cứ như là tù nhân bị chuyển về nông thôn để lao động ý. Nó không thể tin mẹ lại làm thế với nó.

Ronnie như bị sự đau khổ bao vây lấy, mất một lúc sau nó chợt nhìn thấy bản nhạc Sonata thứ 16 của Mozart. Đó là một trong những bản nhạc nó đã trình bày tại Carnegie Hall 4 năm trước, và nó biết mẹ đã đặt lên trong Ronnie đang ngủ say. Quá tệ. Ronnie ngừng lại.

"Sao con lại làm thế?" mẹ nó nhăn mặt. "Mẹ muốn con chơi bản nhạc này."

"Không."

"Hay mẹ văn nhỏ volume xuống vậy?"

"Con không chơi nữa, được chưa hả mẹ? Con không có tâm trạng để chơi đàn đâu."

Ronnie nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ, mẹ nó mím chặt môi lại. Mẹ nó thường xuyên làm thế.

"Mẹ nghĩ mẹ thấy con chim bồ nông khi mẹ con mình đi trên cầu đến bãi biển Wrightsville", mẹ nó nhẹ nhàng nói.

"Hay mẹ nhỉ ? Có lẽ mẹ nên nói với người thợ săn cá sấu."
"Ông ấy mất rồi," giọng nói của Jonah vang lên từ ghế sau, lẫn âm thanh trong Game Boy. Đứa em trai mười tuổi của nó rất thích trò chơi này. "Chị không nhớ sao?" em nó nói tiếp. "Điều đó thật là buồn."

"Tất nhiên là chị nhớ chứ."

"Trông như là chị không nhớ ý."

"Có chứ."

"Vậy thì chị đừng nói những gì chị vừa nói nữa."

Nó chẳng quan tâm đến việc trả lời em nó nữa. Em nó luôn cần cái câu tra lời cuổi cùng và khiến nó phát điên lên.

"Tốt nhất là con nên đi ngủ đi" mẹ nó bảo.

"Để con làm xong đã. À, thực ra con đang nhìn ra ngoài cửa kính."

Mẹ nó vẫn nhìn chằm chằm. "Cũng may là tâm trạng con có vẻ khá hơn."

Ronnie nhai kẹo cao su. Mẹ nó không thích nó nhai kẹo quá nhiều khi đang lái xuống đường I-95. Theo mẹ nó, điều chán nhất ở giữa các tiểu bang là cái đường đi. Trừ khi có ai thích đồ fast food béo ngậy, hay cái phòng tắm công cộng bẩn thỉu hoặc những cây thông, mới có thể ngủ ngon mà không cần dùng tới thuốc ngủ.

Ronnie muốn nói nhiều điều với mẹ ở Delaware, Maryland, và Virginia, nhưng mẹ chẳng bao giờ chịu nghe nó nói cả. Ngoài việc cố gắng để chuyến đi được tốt đẹp, đó lần cuối họ muốn nhìn mặt nhau, mẹ chẳng nói, chẳng rằng trong xe. Bà không lái xe thoải mái được, không đáng ngạc nhiên vì họ toàn đi tàu điện hoặc đi taxi. Ở căn hộ,… lại là chuyện khác. Mẹ chẳng hề băn khoăn gì cả, và việc xây dựng siêu thị đã được tiến hành hai lần trong hai tháng cuối khiến họ dằn lại. Mẹ nó có thể tin rằng mẹ nó sẽ hét còn to hơn khi nhìn thấy điểm số của Ronnie hay bạn nó, hay việc Ronnie không tuân theo giờ giới nghiêm của mình.

Bà ấy không phải là bà mẹ tồi tệ nhất, đúng vậy. Và khi bà ấy rất rộng lượng, Ronnie còn thừa nhận nó cảm thấy rất tuyêt khi mẹ đi xa. Đây là lần thứ 100 Ronnie ước mình được sinh vào tháng 5 chứ không phải tháng 8. Lúc đó nó đã 18 tuổi, mẹ nó sẽ không thể bắt nó làm bất cứ chuyện gì. Nó muốn đủ lớn để tự quyết, và nói những gì sẽ xảy ra không phải là việc của nó.
Nhưng bây giờ, Ronnie không hề có sự lựa chọn. Bởi theo lịch, nó chỉ mới 17 tuổi thôi. Vì mẹ nó mang thai nó trước 3 tháng. Vậy thì sao? Ronnie sẽ không phải tìm mọi cách để xin tiền mẹ hay phải kêu ca phàn nàn về kỳ nghỉ hè. Ronnie và Jonah phải dành kỳ nghỉ hè với bố của chúng, và thế là hết. Nếu, và, hoặc, hay nhưng, đó là điều mẹ nó luôn nói. Ronnie phải học cách bị coi thường.
Khi qua cầu, dòng xe trên đường đã làm cho tuyến giao thông mùa hè bị chậm đi. Qua đường, giữa các ngôi nhà, trong đầu Ronnie hiện ra hình ảnh đại dương. Yippee. Giống như là nó đang được quan tâm.

"Sao mẹ lại bắt chúng con phải làm thế?" Ronnie rên rỉ.

"Chúng ta đã nói về điều này rất nhiều lần rồi," her mom answered. "Con cần phải dành thời gian với bố. Bố nhớ con lắm."

"Nhưng sao lại là cả mùa hè? Sao không thể là 2 ngày cuối tuần đi?"

"Con cần phải ở hơn 2 ngày. Con không gặp bố 3 năm rồi."

"Có phải lỗi tại con đâu. Do bố không về đấy chứ."

"Ai bảo con không chịu nghe điện thoại của bố. Mà mỗi lần bố đến New York để gặp con và Jonah, con chỉ toàn đi chơi với bạn thôi."

Ronnie lại tiếp tục nhai kẹo. Mẹ nó nhăn mặt lên.

"Con chẳng muốn gặp hay nói chuyện với bố đâu," Ronnie nói.

"Cứ làm những gì tốt nhất đi? Bố con là người cha tốt và ông ấy rất yêu con."

"Đấy có phải là lý do mà ông ấy bỏ bọn con không?"

Thay vì trả lời, mẹ nó nhìn liếc qua gương chiếu hậu.

"Con đang quan tâm đến chuyện đó hả Jonah?"

"Mẹ đùa hả? Chuyện này thật tuyệt vời!"

"Mẹ rất mừng là con vui. Có lẽ con có thể dạy được chị con."

Jonah khịt cái mùi. "Dạ vâng."

"Con chỉ không hiểu sao con không được gặp bạn con," Ronnie than vãn.

Nó chưa hiểu. Mặc dù nó biết năn nỉ cũng bằng thừa, nó vẫn muốn thuyết phục mẹ quay xe lại.

"Con đừng nói là con chỉ biết dành tất cả buổi tối để đến câu lạc bộ nhé? Mẹ đâu có dại, Ronnie. Mẹ biết tất cả những nơi đó."

"Mẹ, con chằng làm gì sai cả."
"Thế còn điểm số của con thì sao? Cả cái việc con chẳng tuân theo giờ giới nghiêm nưaz? Và…"

"Mẹ có thể nói những chuyện khác được không?" Ronnie ngắt lời. "Như tại sao mà con phải dành thời gian với bố con?"

Mẹ nó lờ đi. Một lần nữa, Ronnie biết mẹ có mọi lý do. Mẹ đã trả lời nó hàng triệu lần rồi, kể cả nó chẳng muốn.

Giao thông bắt đầu ổn định, chiếc xe tiếp tục chuyển động trước khi bị chặn lại. Mẹ nó đóng cửa sổ và cố gẳng vượt chiếc xe phía trước đó.

"Mình muốn biết chuyện gì xảy ra," nó lẩm bẩm. "Cứ như là bị tống khứ ý."

"Bãi biển đấy," Jonah nói luôn. "Bãi biển luôn đông đúc."

"Mới 3h thôi, lại vào Chủ Nhật nữa. Lẽ ra là không đông như thế này."

Ronnie gập chân vào, nó cảm thấy ghét cuộc sống của nó. Chán ghét tất cả mọi thứ

"Mẹ ơi?" Jonah hỏi. "Bố có biết là chị Ronnie bị bắt về đây không?"

"Có đấy," mẹ trả lời.

"Bố định làm gì?"

Lần này, Ronnie đáp. "Bố sẽ chẳng làm gì đâu. Bố chỉ quan tâm đến piano thôi."

Ronnie ghét đánh đàn piano và nó thề sẽ chẳng bao giờ thèm chơi nữa, quyết định nó khiến cả bạn bè của nó ngạc nhirn, vì Ronnie đã biết đánh đàn từ rất lâu và đó cũng là một phần cuộc đời của nó. Bố nó, từng dạy ở trường Juilliard một lần, và là người dạy cho nó biết chơi đàn từ lâu rồi, nó còn muốn mình không chỉ chơi đàn, mà còn biết sáng tác nhạc cùng với bố mình.

Nó chơi đàn giỏi. Thực sự là quá giỏi, và vì khi bố nó còn làm ở trường Juilliard, tất cả các giáo viên trong trường đều biết khả năng chơi đàn của nó. Bắt đầu từ "nhạc cổ điển rất quan trọng" đã in sâu trong cuộc đời của bố Ronnie. Hai bài báo trong tạp chí âm nhạc, và một bài viết dài trong tờ báo New York Times viết về hai cha con Ronnie, đều được xuất hiện trên Young Performers ở Carnegie Hall 4 năm trước trước sự them muốn của mọi người. Nó nghĩ điều đó khiến cho sự nghiệp của mình them nổi bật. Và đó sự nổi bật; nó không hề dại dột về những gì đạt được. Nó biết nó đã có một cơ hội hiếm hoi, nhưng nó tự hỏi liệu nó hy sinh như thế để được cái gì chứ. Không ai ngoài bố mẹ nó có thể nhớ hoặc quan tâm đến nó đã biểu diễn cái gì. Ronnie đã hiểu rằng năng khiếu âm nhạc chẳng là cái gì, trừ khi bạn có một video nổi tiếng trên YouTube hoặc biểu diễn trên sân khấu trước hàng nghìn người.

Đôi khi nó ước giá như bố nó dạy nó chơi đàn guitar điện. Hay ít ra cũng phải dạy hát. Tại sao nó lại phí tài năng ấy để đánh đàn piano? Dạy nhạc ở trường học địa phương ư? Hay là chơi nhạc tại tiền sảnh khách sạn trong khi mọi người kiểm tra? Hay theo đuổi cuộc sống khó khăn của cha mình? Nhìn xem đàn piano đã đưa ông ấy đi đâu này. Ông ấy phải từ bỏ theo đuổi con đường Juilliard để có thể theo đuổi con đường nghệ sĩ dương cầm ở các buổi hòa nhạc. Ông đã đi 4 tuần trong 1 năm, đủ để cho cuộc hôn nhân thêm căng thẳng. Sau đó nó hiểu, mẹ nó luôn kêu la còn bố thì luôn luôn mặc kê, đến khi một ngày chỉ đơn giản là bố không trở về khi đi tour phía Nam. Đến khi nó biết, bố nó không hề làm gì cả. Ông thậm chí còn chẳng dạy học nữa.

Công việc ra sao rồi hả bố?

Nó lắc đầu. Nó thực sự không muốn ở đây. Có trời mới biết nó chẳng muốn làm bất cứ cái gì cả.

"Mẹ ơi!" Jonah gọi ra. Nó cúi về phía trước. "Cái gì ngoài kia thế? Hình như là chiếc bánh xe Ferris?"

Mẹ rướn cổ lên, cố nhìn xung quanh chiếc xe trong ngõ bên cạnh. "Mẹ cũng nghĩ thế đấy," bà trả lời. "Chắc ở thị trấn có lễ hội gì rồi."

"Chúng ta có thể đi được không mẹ? Sau khi mọi người ăn tối xong?"

"Phải hỏi bố con đã."

"Vâng, sau đó, tất cả chúng ta sẽ ngồi quanh lửa trại và ăn thịt nướng," Ronnie xen vào. "Giống như chúng ta là một gia đình lớn, một gia đình hạnh phúc ấy."

Lần này, cả hai người đều mặc kệ nó.

"Mẹ có nghĩ sẽ có cuộc đua ngựa không?" Jonah hỏi

"Chắc chắn rồi. Nếu bố không muốn, mẹ nghĩ chắc chị con cũng sẽ đi theo đấy."

"Quá tuyệt vời luôn!"

Ronnie ngồi chùng xuống. Có lẽ mẹ nó cũng sẽ đề nghị như vậy. Tất cả đều thật đáng buồn.